🪷 Chùa An Lạc

Bát Nhã Tâm Kinh: ý nghĩa và cách tụng

Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh, thường gọi là Tâm Kinh, là một trong những bản kinh ngắn và phổ biến nhất của Phật giáo Đại thừa. Bản Hán văn được tụng nhiều nhất do ngài Huyền Trang dịch. Chỉ khoảng hai trăm năm mươi chữ Hán, bản kinh cô đọng tinh thần của hệ kinh Bát Nhã.

Tên kinh có nghĩa gì

“Bát Nhã” là phiên âm của chữ Phạn prajñā, nghĩa là trí tuệ. “Ba La Mật Đa” (pāramitā) thường được hiểu là đến bờ bên kia. “Tâm” là cốt lõi. Vậy tên kinh có thể hiểu là phần cốt lõi của trí tuệ đưa người vượt qua khổ đau.

Những ý chính

Ngũ uẩn đều không. Bài kinh mở đầu với Bồ Tát Quán Tự Tại, khi quán sâu trí tuệ Bát Nhã đã thấy năm uẩn đều không, nhờ đó vượt mọi khổ ách. Năm uẩn là sắc, thọ, tưởng, hành, thức, tức thân và các hoạt động tâm lý tạo nên cái ta gọi là “mình”.

Sắc tức thị không. “Không” ở đây không có nghĩa là chẳng có gì. Mọi sự vật đều do nhiều duyên hợp lại và luôn đổi thay, nên không có một tự thể riêng biệt, cố định. Hiểu được điều này, ta bớt bám chấp vào được mất, hơn thua.

Tâm không vướng mắc. Khi không còn bám chấp, tâm không còn chướng ngại, bớt sợ hãi và rời xa những suy nghĩ điên đảo.

Câu chú cuối bài

Kinh kết thúc bằng câu chú “Yết đế yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, Bồ Đề tát bà ha”, phiên âm từ tiếng Phạn. Câu này thường được giảng là: qua đi, qua đi, qua bờ bên kia, tất cả cùng qua bờ bên kia, giác ngộ viên mãn.

Tụng Tâm Kinh thế nào

  1. Chọn lúc yên tĩnh, ngồi thẳng lưng, thở vài hơi cho tâm lắng lại.
  2. Tụng chậm và đều, nghe rõ từng tiếng của mình. Có thể gõ mõ giữ nhịp.
  3. Tụng xong, ngồi yên một lát và hồi hướng điều lành đến mọi người.

Không cần hiểu hết mọi câu ngay từ đầu. Nhiều người tụng trước, rồi hiểu dần qua thời gian và qua lời giảng của các vị thầy.

Bài viết mang tính phổ thông và có thể khác nhau giữa các truyền thống. Khi cần hiểu sâu, xin tham vấn chư Tăng Ni hoặc thầy cô hướng dẫn.

Tụng Tâm Kinh tại chánh điện 3D

Bài viết khác